Bệnh sa sút trí tuệ ở người cao tuổi

Sa sút trí tuệ là tình trạng suy giảm chức năng nhận thức. Đây là một bệnh phổ biến ở hầu hết người cao tuổi. Bệnh gây nhiều ảnh hưởng làm giảm khả năng hoạt động của người bệnh trong cuộc sống.

Bệnh sa sút trí tuệ ở người cao tuổi 1

Ai dễ bị sa sút trí tuệ

Người cao tuổi đều có nguy cơ mắc bệnh đặc biệt là các nhóm đối tượng sau:

  • Người bị huyết áp có nguy cơ cao mắc sa sút trí tuệ thậm chí là Alzheimer, do huyết áp thấp liên quan đến quán trình lão hóa thần kinh.
  • Nhóm người béo phì sẽ tăng nguy cơ mắc sa sút trí tuệ đặc biệt khi về già.
  • Nhóm người cao tuổi mắc đái tháo đường.
  • Nhóm mắc bệnh về tim mạch như mạch máu não, nhồi máu não đa ổ, đột quỵ
  • Nhóm người cao tuổi mắc máu nhiễm mỡ khiến lượng cholesterol tăng cao – đây là tác nhân gây sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer khi về già.
  • Người sử dụng rượu thường xuyên và quá mức.
  • Người có chế độ ăn nhiều mỡ bão hòa.

Các dạng sa sút trí tuệ thường gặp ở người cao tuổi

Có 10 dạng sa sút trí tuệ phổ biến thường gặp hơn cả ở người cao tuổi đó là:

1. Suy giảm trí tuệ mạch

Hay còn có tên gọi khoa học là Vasaular dementia – đây là căn bệnh sa sút trí tuệ phổ biến nhất. Nguyên nhân gây bệnh được xác định là do não không được cung cấp đủ lượng máu do tắc mạch máu gây nên tình trạng thiếu oxy và dưỡng chất, tạo nên hiện tượng loạng quạng.

Ngoài ra, suy giảm trí tuệ mạch còn có thể do người bệnh mắc đột quỵ, đái tháo đường và cao huyết áp.

2. Sa sút trí tuệ hỗn hợp

Là bệnh có tên gọi khác là Mixed Dementia đây là dạng bệnh do nhiều nguyên nhân cùng gây ra  kể cả bệnh Alzheimer và suy giảm trí tuệ do mạch máu gây ra.

3. Sa sút trí tuệ thể DLB

Hay còn gọi là bệnh DLB (Lewy Body Disease) là căn bệnh dễ nhận biết là có nhiều cặn protein bất thường hay các chất Lewy có trong các tế bào thần kinh thùy não.

Các chất cặn lắng này làm gián đoạn chức năng của não bộ, làm suy giảm nhận thức và hành vi, làm cho chân tay bị run. Đây là căn bệnh khó chữa bởi có nhiều bí ẩn mà đến nay khoa học chưa khám phá hết .

4. Bệnh mất trí nhớ Parkinson

Bệnh mất trí nhớ Parkinson hay còn gọi tắt PDD đây là dạng bệnh thần kinh mãn tính tăng dần và ở giai đoạn cao. Dạng này gây ảnh hưởng trực tiếp đến trí nhớ của con người. Mặc dù không phải tất cả ngườ mắc bệnh Parkinson đều dẫn đến sa sút trí tuệ, nhưng nó lại có cơ chế giống như bệnh mất trí nhớ thể Lewy (DLB) nêu ở trên. Triệu chứng thường gặp như run tay, co cơ và gặp khó khăn trong phát ngôn. Các vấn đề liên quan đến suy nghĩ như nói năng và nhận thức cũng bị ảnh hưởng.

5. Sa sút trí tuệ trán – thái dương

Sa sút trí tuệ trán-thái dương có tên khoa học là Frontotemporal Dementia, gọi tắt FD đây là một căn bệnh phổ biến trong nhóm bệnh sa sút trí tuệ. Đây là những rối loạn hiếm gặp do tế bào não ở thùy trán thái dương bị tổn thương gây ra. Căn bệnh này còn có tên gọi khác là Pick’s disease, ảnh hưởng đến tính cách cá nhân, làm suy giảm kỹ năng giao tiếp xã hội, thường gặp ở nhóm người trên 65. Tuy không làm mất trí nhớ nhưng lại làm thay đổi tính cách. Ví dụ bệnh nhân không có khả năng tự kìm chế, không quan tâm đến công việc gia đình. Trước đây, căn bệnh này được xếp là bệnh tâm lý nhưng ngày nay qua nghiên cứu người ta phát hiện thấy là do suy thần kinh, việc chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời sẽ có tác dụng tích cực.

6. Suy giảm trí tuệ CJD

Suy giam trí tuê CJD tên tiếng anh là Creutzfeldt- Jacob Dementia đây là căn bệnh rối loạn thần kinh thoái hóa hay còn được gọi là bệnh bò điên.

Căn bệnh này diễn ra rất chậm, tỷ lệ mắc bệnh 1/1 triệu người và hiện vẫn chưa có thuốc đặc trị. Nguyên nhân gây bệnh là do virus gây ra, can thiệp vào não làm rối loạn các chức năng vốn có và gây suy giảm trí nhớ. Triệu chứng đa dạng như mất trí nhớ, suy giảm khả  năng phát ngôn, gây lộn xộn, đau cơ, co giật cơ bắp và ảnh hưởng trực tiếp quá trình điều phối khả năng đi đứng, di chuyển của con người và thường gây ngã, mắt mờ kèm theo ảo giác.

7. Bệnh NPH

NPH tên đầy đủ là Normal Pressure Hydrocephalus là bệnh tràn dịch não áp lực bình thường hay phình nước trong não thất là căn bệnh liên quan đến sự tích tụ dịch tủy não trong các khoang của não. Do không thoát được nên dịch ứ này đã làm tăng áp lực não, can thiệp đến chức năng não và dẫn đến suy giảm trí nhớ. Những người mắc phải căn bệnh này thường đi lại khó khăn, mất cân bằng, đặc biệt là khả năng kiểm soát của bàng quang, ngoài ra nó còn gây suy giảm nhận thức, đặc biệt là kỹ năng nói, xử lý tình huống và khả năng trí nhớ của não.

8. Bệnh Huntington

Bệnh Huntington – Huntington’s disease là căn bệnh di truyền, gây ảnh hưởng đến nhận thức hành vi và việc di chuyển của người bệnh. Các triệu chứng của bệnh Huntington thường gặp như suy giảm chức năng nhớ, phân biệt đúng sai, thay đổi tâm trạng, trầm cảm và nói năng khó khăn ngoài ra còn xuất hiện tình trạng ảo giác, co giật không kiểm soát, kể cả cơ mặt và chân tay.

9. Suy giảm trí tuệ WKS

WKS là  căn bệnh suy giảm trí nhớ liên quan đến Hội chứng Wernickekosakoff Syndrome. Nguyên nhân gây bệnh là do thiếu thiamine (tiền tố vitamin B1), đặc biệt là nhóm người hay lạm dụng rượu bia, suy dinh dưỡng và nhóm người mắc bệnh ung thư giai đoạn di căn, hoặc những người có  hormone tuyến giáp cao bất thường, nhưng người chạy thận dài kỳ và dùng liệu pháp lợi tiệu quá lâu để chữa bệnh tim. Triệu chứng của căn bệnh thường hay lẫn lộn, trí nhớ kém nhất là nhớ ngắn hạn và đôi khi xuất hiện cả tình trạng ảo giác.

10. Suy giảm nhận thức thể nhẹ

Hay còn gọi tắt là bệnh MCI đây là căn bệnh do tác dụng phụ khi sử dụng các loại thuốc chữa bệnh khác gây ra. Triệu chứng của căn bệnh MCI là suy giảm trí nhớ và đôi khi còn ảnh hưởng đến nhận thức, phân biệt đúng sai  và do diễn ra chậm nên không gây ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày dễ bị bỏ qua.

Người mắc MCI thường có những thay đổi đáng kể về tính cách, như suy giảm trí nhớ, mắc bệnh trầm cảm, bồn chồn, bực tức. Đây chính là biểu hiện của căn bệnh suy giảm trí nhớ ở thể nhẹ do dùng thuốc chữa bệnh gây ra.

Phát hiện bệnh bằng cách nào?

Đa số người mắc sa sút trí tuệ ở người cao tuổi đều có những triệu chứng nhận biệt đặc biệt là tình trạng suy giảm trí nhớ từ nhẹ đến nặng, mức độ sẽ tăng dần qua các năm, mất dần khả năng nhận thức và trí tuệ trong vòng 2 – 10 năm và hậu quả là mất hết mọi khả năng sinh hoạt độc lập, trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào người khác và thường tử vong do nhiễm khuẩn.

Sa sút trí tuệ được phân ra làm 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn ban đầu (mới bị): người bệnh giảm trí nhớ gần hay trí nhớ ngắn hạn như nhắc đi nhắc lại một câu hỏi, thậm chí chỉ cách nhau vài phút, hoặc rất hay đi tìm đồ dùng cá nhân vì không nhớ để chúng ở đâu. Quên các từ ngữ thường dùng nên phải diễn đạt theo kiểu nói vòng vo. Khó khăn trong sinh hoạt thường ngày. Thay đổi nhân cách, rối loạn cảm xúc và giảm khả năng nhận xét, đánh giá. Người bệnh trở nên khó tính, dễ nóng giận và kích động. Trong giai đoạn này, họ thường có khả năng bù đắp những thiếu sót về trí nhớ nếu như vẫn sống trong môi trường quen thuộc nhưng sẽ bộc lộ dễ dàng nếu sống ở môi trường mới.
  • Giai đoạn giữa: Người bệnh bắt đầu khó hoặc không làm được công việc hàng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân… Mất khả năng thu nhận thông tin nên bị rối loạn định hướng nặng về không gian và thời gian. Bệnh nhân có thể lạc ngay cả khi ở trong nhà mình, dễ bị ngã. Nặng hơn, có thể bị hoang tưởng, đặc biệt hoang tưởng bị ám hại, do đó ngày càng trở nên nghi kỵ người xung quanh.
  • Giai đoạn nặng: Người bệnh hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trong các hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và đi lại. Người bệnh không còn nhận biết được người thân trong gia đình, không đi lại được nên phải nằm liệt giường.

Hầu hết người cao tuổi được phát hiện ra bệnh dựa vào triệu chứng ở giai đoạn giữa bởi yếu tố chủ quan và không để ý, không quan tâm của người thân trong gia đình.

Phát hiện bệnh bằng cách nào? 1

Ý kiến của bạn

Tư vấn sức khỏe trực tuyến

Vui lòng đặt câu hỏi, các chuyên gia sẽ tư vấn sớm nhất cho bạn!

Ý kiến của bạn